Tổng quan chung về thị trường Chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập

Gửi ngày: 20 tháng 5 năm 2014 - 5371 lượt xem

Việt Nam là một nước đang phát triển với rất nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Có nhiều cơ hội mở ra cho cả công ty nhỏ và lớn. Trong sự họi nhập với nền kinh tế toàn cầu, từ năm 2000 thị trường chứng khoán Việt Nam đã được mở ra. Từ đó, nó đã được phát triển và có sự tăng trưởng vững chắc thông qua sự nhìn nhận bên trong và bên ngoài thị trường theo từng năm.

Có một thời điểm chúng ta đã có nền kinh tế bong bóng không thể tin được với với tỷ lệ lạm phát tăng từ 10 tới 20% trong 2 năm, tất nhiên, sự cảnh báo về kết quả đó là do yếu kém của thói quen lưu hành tiền tệ và sự mất giá của đồng tiền đang diễn ra. Trong năm 2011, Chính phủ đã bắt đầu kiểm soát vấn đề trên bằng cách sử dụng các chính sách tài chính và tiền tệ khá nghiêm ngặt, và bây giờ lạm phát đã được kiểm soát ở mức cân bằng lịch sử của nó. Chúng tasẽ thấy lạm phát 2 năm tới ở mức 6-6,5% - khác xa với những ngày khi chúng ta ở mức hơn 20%.

Giám đốc điều hành của Dragon Capital nói rằng các nỗ lực để đạt được mục tiêu ổn định thị trường tài chính tiền tệ của chính phủ Việt Nam và Ngân hàng nhà nước đã thành công. Tỷ giá đồng Việt Nam đã được giữ ổn định trong những năm cuối sau cuộc khủng hoảng từ 2008 tới 2010. Lạm phát trước kia vượt 25% đã được hạ xuống một con số và chính phủ cam kết giữ ở mức đó.

Chỉ là bản năng tự nhiên để tồn tại, ĐCS Việt Nam tại một vài điểm đã nhận ra rằng phải ổn định nền kinh tế hoặc mất đi vị trí lãnh đạo cho một đảng duy nhất. Vì vậy họ đã có những chính sách mạnh đối với nền tài chính tiền tệ bởi vì họ hiểu họ phải làm vậy và đã có rất nhiều sự đồng thuận trong việc làm đó.

Bất chấp các điều kiện thị trường, đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (FDI) đã phục hồi mạnh. Pháp luật ổn định và trật tự, tỷ lệ tiết kiệm cao và các yếu tố văn hóa khác làm cho Việt Nam là một nơi tốt cho các công ty kinh doanh. Với khoảng 75% dân số vẫn còn làm việc trong ngành nông nghiệp, có rất nhiều khả năng để phát triển hơn nữa.

FDI vẫn còn rất lớn trong suốt tất cả những khó khăn trong nền kinh tế. FDI chưa bao giờ rớt xuống mức 7,5 tới 8 tỷ USD, đó là một sự cân đối rất lớn với GDP. Nếu như ta nhìn vào các quốc gia khác, thậm chí không có một nước nào có được mức độ đó. Xuất khẩu vẫn còn rất mạnh trong suốt những vấn đề của nền kinh tế và tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam là dẫn đầu trong khu vực, và đó cũng là yếu tố khác giúp cho sự ổn định thị trường.

Một mối quan tâm lớn đối với các nhà đầu tư là khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ cuộc khủng hoảng kinh tế bong bóng của nó. Chính phủ đã nhận ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng này là rất quan trọng. Trọng tâm là phục hồi một cách bền vững trong khi làm sạch hệ thống. Nợ xấu được ước tính một cách không chính thức là khá cao 18%. Chính phủ đang giúp đỡ các ngân hàng xử lý nợ xấu của họ bằng cách: mua lại những khoản nợ xấu từ ngân hàng để đổi lấy trái phiếu không lãi suất và sẽ hết hạn sau 5 năm, và sau đó ngân hàng được phép vay lại 50% giá trị trái phiếu từ chính phủ.

Hàng năm các ngân hàng trải rộng các khoản nợ xấu và khấu hao từng phần vào các trái phiếu không lãi suất đó là tài sản thế chấp cho các khoản vay mà họ đang làm vào lúc này, lãi suất cho vay thương mại là khoảng 13%, do đó nếu họ có thể vay với một nửa giá trị những khoản vay của họ, có nghĩa là họ sẽ vay trên diện rộng. Đó là một cái gì đó để bù đắp lại những thiệt hại mà họ yêu cầu là 25% mỗi năm cho các khoản nợ xấu.

Mọi người dân nên tin tưởng vào những gì chính phủ đã làm từ đó đến nay. Họ đã ổn định được các ngân hàng, và họ đã làm tốt. Họ đã áp dụng nhiều quy định cho các ngân hàng. Chính phủ cũng giữ hệ thống hoạt động trôi chảy bất cứ khi nào cần thiết và tính thanh khoản bây giờ rất hợp lý.

Sau khi chỉ số chứng khoán VNI tăng 34% giữa 27/11/2012 và 1/4/2013, chỉ số đã đã ổn định lại. Theo dự báo, dường như đây là dấu hiệu cho thấy các chỉ số đã phá vỡ ngưỡng giao

Tác giả: Quang Sáng